Xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong Nghị quyết Trung ương 9 (Khóa XI)

So với tiêu đề Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) thì tại Nghị quyết này, xây dựng con người Việt Namđược đưa lên tiêu đề; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là nhiệm vụ đầu tiên trong 6 nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa. Đây là nét đặc sắc của Nghị quyết Trung ương 9 về văn hóa, là kết quả trực tiếp của thành tựu phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về văn hóa, về vị trí, vai trò của văn hóa trong thời kỳ mới. Để nhận thức sâu sắc sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về văn hoá, chúng ta cùng nhau tìm hiểu một số Nghị quyết của Đảng về văn hoá trong hơn 70 năm qua.
Đầu năm 1943, thời điểm Đảng lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, trong Đề cương văn hóa Việt Nam 1943, Đảng ta quan niệm, văn hóa bao gồm: Tư tưởng, học thuật (khoa học) và nghệ thuật (văn học, nghệ thuật) với vai trò: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Cũng vào năm 1943, trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh đã viết tập thơ Nhật ký trong tù. Cuối tập thơ này, trong mục đọc sách, Bác Hồ đã viết ý nghĩa của văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Một chương trình văn nghệ về chủ đề Biển đảo quê hương
Một chương trình văn nghệ về chủ đề Biển đảo quê hương

44 năm sau, tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị (khoá VI) ban hành Nghị quyết 05 về lãnh đạo, quản lý văn hoá, văn nghệ. Trong Nghị quyết chuyên đề này, Đảng ta quan niệm: Văn hoá là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị văn hoá… Văn hoá Việt Nam kết tinh tâm hồn, trí tuệ, tài năng và đạo lý làm người của dân tộc ta. Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hoá là bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng văn hoá, là một động lực mạnh mẽ, là mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Năm 1998, khi ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Đảng ta quan niệm: Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Văn hóa bao gồm các lĩnh vực sau đây: Tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn học, nghệ thuật, báo chí truyền thông, di sản văn hóa, văn hóa tôn giáo, giao lưu hợp tác quốc tế về văn hóa… Xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu động lực của phát triển kinh tế - xã hội.
Tổng kết 15 năm thực hiện chiến lược văn hóa này của Đảng, chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về văn hóa – một lĩnh vực rất rộng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng thuộc đời sống tinh thần của xã hội và con người. Vì thế, đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Chúng ta có thể có 3 hướng tiếp cận cơ bản quan niệm về văn hóa:
- Theo nghĩa rộng nhất, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất, tinh thần do lao động của con người sáng tạo và tích lũy lại tạo nên bản sắc của từng tộc người, từng dân tộc, từng xã hội. Đó là “thiên nhiên thứ hai” do con người sáng tạo ra làm thành các giá trị vĩnh hằng của nhân loại.
- Tiếp cận từ cấu trúc, yếu tố hàng đầu của văn hóa là sự hiểu biết, khả năng sáng tạo mà con người tích lũy được trong quá trình học tập, lao động và đấu tranh. Nhưng sự hiểu biết chỉ trở thành văn hóa khi nó trở thành nền tảng cho hành vi ứng xử của con người trong các quan hệ của con người với xã hội, với tự nhiên, với bản thân mình.
- Theo quan điểm giá trị văn hóa là trình độ phát triển các quan hệ nhân tính của một xã hội, của mỗi con người, nó được cộng đồng khẳng định thành một hệ giá trị mà chuẩn mực cơ bản là: Chân, Thiện, Mỹ.
Theo chuẩn mực cơ bản này, ta phân biệt được cái gì là văn hóa, cái gì là phản văn hóa, vô văn hóa thể hiện ở ba cặp phạm trù cơ bản: Đúng – Sai, Thiện – Ác, Đẹp – Xấu.
Cốt lõi của các giá trị văn hóa là Hệ tư tưởng (Hệ tư tưởng là sự phản ánh lợi ích giai cấp dưới hình thức lý luận, cho nên nó mang bản chất giai cấp. Hệ tư tưởng là hệ thống những tư tưởng và quan điểm lý luận thể hiện sự nhận thức và đánh giá hiện thực xung quanh xuất phát từ những lợi ích xã hội nhất định. Hệ tư tưởng mang tính lý luận nghĩa là hệ thống hóa một cách duy lý, nó khác với tâm lý xã hội, gắn liền với cảm giác sống của ý thức đời thường. Hệ tư tưởng gồm các tư tưởng và quan điểm về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ, triết học…
Hệ tư tưởng là cốt lõi của các giá trị văn hóa, vì nó giữ vai trò kết dính, định hướng các chuẩn mực giá trị của các cộng đồng văn hóa. Văn hóa biểu hiện trong các giá trị cơ bản, trong các động cơ, niềm tin khi con người ứng xử trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực đời sống. Do đó, ta có thể nói đến: Văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa lao động, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân, văn hóa giao tiếp, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa sinh thái, văn hóa tôn giáo, văn hóa gia đình.
Từ những quan niệm cơ bản về văn hóa trên đây, chúng ta nhận thức sâu sắc bản chất của khái niệm văn hoá.
- Nói văn hoá là nói tới con người, là nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Do đó, khái niệm văn hoá chứa đựng tính chất nhân văn. Cơ sở của mọi hoạt động văn hoá là khát vọng hướng tới Chân, Thiện, Mỹ. Vì văn hoá là sự phát huy các năng lực bản chất của con người, là sự thể hiện đầy đủ nhất chất người, nên văn hoá có trong tất cả các hoạt động của con người. Cũng từ quan niệm bản chất văn hoá trên, chúng ta nhận thức được vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa.
- Văn hóa là mục tiêu phát triển của kinh tế - xã hội và của đất nước. Văn hóa thể hiện trình độ được vun trồng ngày càng cao, ngày càng toàn diện của con người và của xã hội, khiến con người, xã hội ngày càng đổi mới tiến bộ, tiến tới cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc và văn minh. Trong đó, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng được bồi dưỡng phát huy và trở thành hệ giá trị cao đẹp và chuẩn mực của toàn xã hội. Mục đích này là khát vọng của toàn nhân loại. Đây cũng là mục tiêu lý tưởng phấn đấu của chủ nghĩa xã hội khoa học.
- Văn hóa là động lực phát triển vì văn hóa kết tinh, khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người.
Trong thời đại ngày nay, để phấn đấu đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh không chỉ phụ thuộc vào nhiều hay ít lao động vốn, kỹ thuật, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu là khả năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người. Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa là trong ý chí tự cường và khả năng hiểu biết, trong tâm hồn đạo lý, lối sống, trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng. Để văn hóa trở thành động lực thì giải pháp của mọi giải pháp phải hướng vào xây dựng và phát triển nguồn nhân lực; các chính sách, cơ chế cho phát triển phải hướng vào tạo điều kiện, cơ sở cho các yếu tố cấu thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người. Văn hóa trong lãnh đạo, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong sản xuất kinh doanh, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa sinh hoạt gia đình và ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế. Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ, văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống xã hội con người ngày càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội, phát triển của đất nước càng trở nên hiện thực bấy nhiêu.
- Văn hóa là hệ điều tiết của sự phát triển. Văn hóa phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan, chủ quan, của các điều kiện bên trong và bên ngoài đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Trong nền kinh tế thị trường, văn hóa dựa vào chuẩn mực của cái đúng, cái tốt, cái đẹp để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nâng cao tay nghề sản xuất hàng hóa với năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh ngày càng cao. Văn hóa doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp hướng dẫn, động viên các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, chủ động liên kết, hợp tác để phát triển với sức mạnh của các giá trị văn hóa, mới có khả năng hạn chế, đẩy lùi tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. Trong thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế, văn hóa góp phần tăng cường sự hiểu biết, mở rộng giao lưu hợp tác về nhiều mặt giữa nước ta với các nước khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Trong lĩnh vực kinh tế, mở cửa hội nhập kinh tế là để tăng cường hợp tác, liên kết, liên doanh với nước ngoài, song mọi yếu tố ngoại sinh như: Vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và thị trường nước ngoài… chỉ có thể biến thành động lực bên trong của sự phát triển nếu chúng được vận dụng phù hợp với các yếu tố nội sinh như là yếu tố trọng tâm, tức là con người Việt Nam với truyền thống văn hóa, đạo đức, tâm hồn, lối sống dân tộc Việt Nam. Ở đây, văn hóa dân tộc phải đóng vai trò định hướng, điều tiết để mở cửa hội nhập, nhưng vẫn giữ vững độc lập chủ quyền, xây dựng được nền kinh tế độc lập; hợp tác với bên ngoài nhưng không bị người ta lợi dụng biến mình thành kẻ đi vay nặng lãi, thành nơi cung cấp nguyên liệu và nhân công rẻ mạt, thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa, thành “bãi rác công nghệ lạc hậu”, nơi tiếp nhận lối sống không lành mạnh, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác.
Từ nhận thức sâu sắc nội hàm của văn hóa và vai trò của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã tạo cơ sở lý luận cho Đảng ta trong Nghị quyết Trung ương 9 đã bổ sung, phát triển 3 quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 5 là:
- Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.
- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng: Dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
Cũng trên cơ sở nhận thức sâu sắc quan niệm về văn hóa và vai trò của văn hóa trong thời kỳ phát triển mới, trong Nghị quyết Trung ương 9, Đảng ta đã hình thành mới 2 quan điểm chỉ đạo rất đặc sắc – đây là bước phát triển mới trong tư duy lý luận về văn hóa của Đảng ta đó là: quan điểm: Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết cần cù, sáng tạo và quan điểm: xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa kinh tế và văn hóa, cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế.
Sự hình thành hai quan điểm chỉ đạo mới này cũng trên cơ sở nhận rõ những yếu kém, hạn chế trong việc xây dựng con người và xây dựng môi trường văn hóa thời gian qua. Đúng như Nghị quyết Trung ương 9 đã chỉ rõ: “So với những thành tựu trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng, chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng… Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng”. Và đây cũng là một trong những nguyên nhân của “kinh tế phát triển chưa bền vững. Chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh thấp”. Nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới chưa được đẩy lùi mà còn có chiều hướng gia tăng.
Hai quan điểm chỉ đạo trên đây, đòi hỏi các cấp ủy, chính quyền và toàn bộ hệ thống chính trị khi triển khai thực hiện phải quán triệt và xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng kinh tế với phát triển văn hóa, phải xây dựng và thực hiện đồng bộ chính sách văn hóa trong kinh tế và chính sách kinh tế trong văn hóa, đảm bảo cho văn hóa thể hiện rõ trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy các hoạt động kinh tế, tạo điều kiện nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển văn hóa. Việc xây dựng các mục tiêu giải pháp kinh tế phải gắn với các mục tiêu giải pháp văn hóa, chăm lo con người, nêu cao đạo đức trong sản xuất kinh doanh. Xây dựng văn minh thương nghiệp, văn hóa kinh doanh, văn hóa sinh thái…
Chương trình xây dựng và phát triển văn hóa phải vì mục tiêu phát triển toàn diện con người, hoàn thiện nhân cách con người, với nhiệm vụ trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp với các đặc tính cơ bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Các hoạt động của hệ thống giáo dục - đào tạo, của hệ thống thiết chế văn hoá, khoa học phải hướng vào việc xây dựng con người Việt Nam có thế giới quan khoa học, gắn giáo dục, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, bồi dưỡng tri thức, nâng cao trí lực và kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam.
Phải thực sự coi trọng giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng lối sống cao đẹp: “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, lối sống có ý thức tự tôn, tự trọng, tự chủ; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; ý thức bảo vệ môi trường, lối sống kết hợp hài hoà tính tích cực cá nhân và tích cực xã hội, đề cao trách nhiệm của cá nhân với bản thân, với gia đình và xã hội; biết khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái thiện, cái đẹp, cái cao thượng và nhân rộng các giá trị nhân văn cao đẹp. Coi trọng phát triển văn học nghệ thuật và phát huy vai trò của văn học, nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, nhân cách của con người. Tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho nhân dân, đặc biệt cho lớp trẻ. Bảo đảm quyền hưởng thụ và sáng tạo văn hoá của mỗi người dân và của cả cộng đồng. Thực sự coi trọng giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao thể lực, tầm vóc con người Việt Nam.
Do đó, các lĩnh vực văn hóa như: Giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn học, nghệ thuật, báo chí truyền thông, di sản văn hóa, thể chế, thiết chế văn hóa, văn hóa tôn giáo, giao lưu văn hóa và tất cả các thành tố của môi trường văn hóa (gia đình, các cơ quan, đơn vị, trường học, bệnh viện, đơn vị lực lượng vũ trang, các bản làng, phường, xã…) trong chương trình hoạt động của mình phải hướng tới hiện thực hóa mục tiêu chung: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện hướng đến Chân – Thiện – Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh.

Nguồn tin: ĐCSVN

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn